NHỮNG NHÀ PHÚ HỘ VÀ
NGƯỜI LỪNG DANH Ở
NAM Kỳ
Hứa Hoành
Phần 3 - Nhà giàu xuất thân từ quan
lại
Bùi Quang Chiêu
Bùi Quang Chiêu, nhà
giàu xuất thân từ quan lại: (1873-1945)
Làng Đa Phúc vào cuối thế kỷ 19 (đầu
thế kỷ 20), đổi lại thành Đại
Điền, quận Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre là quê
hương của những nhà giàu, trí thức tân học
đầu tiên ở Nam Kỳ. Nơi đây phát tích
nhiều cự phú, có ảnh hưởng quan trọng
đến kinh tế, xă hội nước ta. Thuộc
loại thông minh, học hành đỗ đạt sớm
nhứt là hai ông cùng sinh trưởng lại cù lao Minh: Bùi
Quang Chiêu, Dương Văn Giáo.
Ông Bùi Quang Chiêu là kỹ sư canh nông đầu tiên
của Nam Kỳ (1897), và Dương Văn Giáo là luật
sư tốt nghiệp Luật khoa Tiến sĩ và chính
trị học tại Paris rất sớm.
Hai ông từng là bạn đồng môn, đồng chí
trong đảng Lập hiến, có thời hoạt
động chung để tranh đấu cho nền
độc lập của xứ sở và chịu chung
số phận: bị Việt Minh thủ tiêu mùa thu năm
1945. Hai ông phải chết v́ Việt Minh cộng sản
sợ uy tín lớn của các ông. Cũng như luật
sư Dương Văn Giáo, ông Bùi Quang Chiêu là một khuôn
mặt chính trị lớn ở Nam Kỳ vào mấy
thập niên đầu thế kỷ này.
Xuất thân trong một gia đ́nh đại
điền chủ, có thân phụ là một nhà nho, từng
chủ trương chống đối người Pháp xâm
lăng, nhưng Bùi Quang Chiêu là một người
được Pháp nâng đỡ và chịu ảnh
hưởng văn hoá Pháp trong đường lối chính
trị ôn hoà. Bùi Quang Chiêu là con của ông Bùi Quang Đại
và bà Phan Thị Tuân.
Thuở nhỏ, Chiêu theo học trường làng ở
Mỏ Cày, rồi lên Sài g̣n, tiếp tục theo học
trường Chasseloup-Laubat. Ông Chiêu được Pháp
cấp học bổng để du học bên Algérie cho
đến khi đậu Tú tài toàn phần. Sau khi tốt
nghiệp trường trung học, Chiêu xin học
trường Thuộc địa tại Paris trong 2 năm
1894-1895, trước khi dược nhận vào học
viện Nông Nghiệp.
Bùi Quang Chiêu là người
Việt nam đầu tiên tốt nghiệp kỹ sư nông
nghiệp vào năm 1897. Trường Thuộc địa là nơi mà anh
bồi tàu Nguyễn Tất Thành (sau này đổi lại
Hồ Chí Minh) mới chân ướt chân ráo đặt chân
lên đất Pháp, vội vàng làm đơn xin theo học.
Chính phủ Pháp bác đơn v́ tŕnh độ cậu ta c̣n
quá kém. Phải chi lúc đó, chính quyền Pháp thâu nhận
cậu Nguyễn Tất Thành, th́ sau này, bộ máy Thuộc
địa sẽ có thêm nhiều Hoàng Trọng Phu, Thân
Trọng Huề... đâu đến nỗi cậu bồi
tàu Nguyễn Tất Thành phẫn chí đi theo cộng
sản, gây tai hoạ cho cả dân tộc Việt nam. Xin xem
thêm bài “ Bác Hồ đi t́m đường cứu
nước... Pháp” cùng tác giả. Theo tài liệu của
Tiến sĩ Sử học Vũ Ngự Chiêu th́
“trường Thuộc địa” (école Coloniale) là một
học hiệu lừng danh, chuyên đào tạo các viên
chức hành chánh thuộc địa của Pháp.
Trước thế chiến thứ nhứt, trường
gồm 2 phân khoa:
- Phân khoa bản xứ (Section Indigene)
- Phân khoa Pháp (Section Française)
Phân khoa bản xứ là liền thân của
trường Thuộc địa Paris.
Khởi đầu từ một nhóm 13 thiếu niên
người Miên được Auguste Pavie mang về Paris
huấn luyện tiếng Pháp vào mùa Thu năm 1885. Phân khoa
này được mở rộng dần, để đón
nhận các học viên người Việt, Lào, Porto Novo và
vài trẻ lai Pháp. Năm 1889, trường Thuộc
địa được Thứ trưởng Thuộc
địa Eugene Étienne chính thức thành lập, gồm
cả hai phân khoa bản xứ và Pháp. Mười năm
sau, giám đốc Etienne Aymonier báo cáo rằng đă có 49
học viên bản xứ rời trường. Quá bán
học viên gốc Miên (25 người). Trong số 17
người Việt, có nhiều nhân vật khá lừng
lẫy: Bác vật canh nông Bùi Quang Chiêu, giáo sư Lê Văn
Chính ở Quốc Tử Giám, Thân Trọng Huề
(Thượng Thơ), Lê Văn Miên (hoạ sĩ), về
sau làm Đốc học trường Pháp Nam ở Vinh...
Từ năm 1908, toàn quyền Klobukowski quyết
định thay đổi việc thâu nhận học viên
vào phân hiệu bản xứ. Từ đây, trường
chỉ thâu nhận học viên đă đậu các khoa thi
Hương và thi Hội ở Việt nam, để
chuẩn bị cho những tân khoa này bước vào
guồng máy hành chánh bảo hộ. Thời gian huấn
luyện kéo dài 2 năm. Tháng 3-1911, một số phó bảng
và ấm sinh người Việt như Bùi Kỷ, Bùi
Thiện Cơ, Phan Kế Toại, Trương Như
Đính (con như Trương Như Cường) bắt
đầu lên đường dự khoá huấn luyện
trắc nghiệm này. Thật ra, họ là những học
viên người Việt cuối cùng của phân hiệu
bản xứ Trường Thuộc địa. (Phải
chi năm 1911, đơn xin nhập học của cậu
bồi tàu Nguyễn Tất Thành được thâu nhận
th́ nước ta đă bước qua một khúc ngoặc
quan trọng khác)
Sau khi tốt nghiệp kỹ sư Canh nông, Bùi Quang Chiêu
hồi hương và được bổ làm công chức
trong phủ Toàn quyền tại Hà Nội. Thời gian
đó P. Doumer có nhiều chương tŕnh phát triển kinh
tế cho toàn thể Đông Dương rất quy mô. Sau ông
Chiêu được đổi qua làm thanh tra nông nghiệp.
Khi trường Canh Nông ở Huế thành lập, Chiêu
được cử ra Huế dạy ít lâu. Năm 1908,
Chiêu về Nam Kỳ và làm việc trong sở Canh Nông.
Năm 1923, Bùi Quang Chiêu,
Dương Văn Giáo, Nguyễn Phan Long... thành lập
đảng Lập hiến, chủ trương tranh
đấu ôn hoà, đ̣i cho nước Việt nam có một
bản hiến pháp như Úc. Thời gian đó, ông Chiêu cũng
đắc cử Hội đồng Quản hạt Nam
Kỳ. Sau vài niên khoá, ông Bùi Quang Chiêu đắc cử Nghị viên Nam Kỳ
tại Thượng Hội Quốc gia thuộc địa
ở Paris (1932). Cũng như Trương Văn Bền,
Chiêu là hội viên lâu đời của Hội dông Kinh
tế lư tài Đông Dương.Năm 1926, ông làm chủ
nhiệm sáng lập tờ báo Pháp ngữ “Diễn đàn
Đông Dương” (La Tribune Indochinoise), bắt đầu
một giai đoạn tranh đấu tích cực hơn.
Cũng năm đó, Bùi Quang Chiêu vận động với
Toàn quyền Đông Dương ban cho Việt nam một
bản hiến pháp, nhưng bị từ chối khéo. Toàn
quyền bảo việc đó ngoài quyền hạn của
ông, v́ thế ông Chiêu nhứt định qua Pháp, để
tranh đấu nhưng thất bại.
Bùi Quang Chiêu là một người hoạt động
trong nhiều lănh vực: chính trị, kinh tế,
thương mại, công nghệ, văn hoá và trong phạm
vi nào ông cũng thành công nhờ uy tín lẫn khả năng.
Bùi Quang Chiêu: nhà chính trị,
nhà báo
Hồi những thập niên đầu thế kỷ
20, dư luận trong nước thường cho rằng
“Bùi Quang Chiêu là Phạm Quỳnh ở Nam Kỳ”. Sự
đánh giá ấy cũng không sai biệt lắm. Cả hai
ông Chiêu và Quỳnh đều là những người thân
Pháp, được Pháp tin cậy, giữ địa
vị cao, tuy nhiên vai tṛ của Bùi Quang Chiêu không quan trọng
bằng Phạm Quỳnh.
Năm 1930, tuần báo “Phụ Nhân Văn” có mở
một cuộc thi kỷ niệm đệ nhứt chu niên
ngày thành lập báo. Đầu đề thứ ba của
cuộc thi là một câu hỏi như sau:
- “Nếu có cuộc tuyển cử 10 vị “Việt
nam nhân dân đại biểu” (như Dân biểu, hay
Nghị sĩ) mà những vị kể tên dưới
đây (tờ báo nêu tên 10 nhân sĩ lúc ấy) ra ứng
cử, th́ độc giả sẽ cử những vị
nào?”Kết quả các câu trả lời được
sắp thứ tự như sau:
1 Phan Văn Trường (luật sư)
2. Huỳnh Thúc Kháng
3. Nguyễn Phan Long
4. Diệp Văn Kỳ
5. Lưu Văn Lang
6. Bùi Quang Chiêu
7. Trần Trọng Kim
8. Dương Văn Giáo
9. Trần Trinh Trạch
10. Phạm Quỳnh.
Dấn thân hoại động từ thập niên 1910,
ông Chiêu bắt đầu bày tỏ thái độ, sự
băn khoăn của ḿnh trước thời cuộc
nước nhà. Những bài viết của ông dân
lượt xuất hiện trên báo “Diễn đàn bản
xứ” của ông Nguyễn Phú Khai (Tháng 3 - 1917). Gần 10
năm sau, ông chủ trương riêng tờ báo “Diễn
đàn Đông Dương”. Thời đó tờ “Diễn
đàn bản xứ”, (La Tribune Ingigene) có thể coi như
cơ quan ngôn luận của đảng Lập hiến
trong thời kỳ đầu. Tờ “Diễn đàn
Đông Dương” do chính ông Chiêu làm chủ nhiệm, ông
Nguyễn Kim Đính làm chủ bút kiêm quản lư. Trên lănh
vực báo chí truyền thông, ông Chiêu biết lợi dụng
phương tiện và sức mạnh của cơ quan ngôn
luận để làm áp lực với chính quyền Pháp và
các nhóm kinh tài khác, để được ưu đăi
trong lănh vực thương mại, kinh doanh. Về
đường lối chính trị, Bùi Quang Chiêu chủ
trương theo dùng thuyết “Pháp Việt đề
huề” do Toàn quyền Albert Sanaut đề ra. Trong một
bài xă luận trên báo “Diễn đàn Đông Dương”
số 47, ra ngày 26-11-1926, ông viết: “Người Pháp đă
góp phần thắt chặt t́nh hữu nghị Việt Pháp,
tạo nền móng vững chắc để từ đó
Đông Dương sẽ vươn lên đẹp
đẽ và vững mạnh. Người Việt nam đă
từng yêu mến nhiều người Pháp có thiện chí
mà họ xem như là bạn thân, anh cả; những
người anh cả này sẵn sàng đền đáp
lại, giúp đỡ anh em...”.
Bắt đầu từ năm 1917, đến năm 1926,
Bùi Quang Chiêu cùng các bạn từng du học ở Pháp
về như Nguyễn Phú Khai, Vơ Hà Trị, mở ra một
thời kỳ mới trong việc phát triển báo chí
tiếng Pháp ở Nam Kỳ.
Cuộc đời
làm chính trị của Bùi Quang Chiêu có thể phân làm 3 giai
đoạn:
1- Giai đoạn đầu, ông viết cho tờ
“Diễn đàn bản xứ” của Nguyễn Phú Khai. Ông Nguyễn Phú Khai là
người sinh tại tỉnh Bà Rịa, trong một gia
đ́nh điền chủ lớn. Sau khi học xong bậc
trung học dê nhứt cấp (theo cách phân chia giáo dục
ngày nay), ông được thâu nhận vào trường
Thuộc địa năm 1904. Sau đó, ông học
tiếp, đậu bằng kỹ sư công chánh. Thế
chiến thứ nhứt bùng nổ (1914), Khai gia nhập quân
đội Pháp với cấp bậc Thiếu uư. Về Sài
g̣n, Nguyễn Phú Khai cùng với Bùi Quang Chiêu lập tờ
báo Pháp ngữ “Diễn đàn bản xứ”, để
vận động cho Việt nam được
hưởng quy chế lập hiến như Úc. Theo chủ
trương của Nguyễn Phú Khai: “Sở dĩ dân
tộc Việt nam nghèo khổ v́ các quan lại Pháp Nam
đàn áp, bóc lột, c̣n Hoa kiều tiếp tay, bằng cách
nắm vận mạng kinh tế. Đó là nguồn gốc
của một quốc gia nghèo và chậm tiến”. Theo Khai,
muốn cho đất nước tiến bộ, không
cần phải độc lập mà cần mở mang kinh
tế, có nghĩa là người Việt phải
đứng ra tham dự vào các hoạt động kinh
tế, cạnh tranh để đem quyền lợi
về cho người bản xứ. Trong tinh thần tranh
thương với Hoa kiều, chính Nguyễn Phú Khai là
một trong những người Việt đầu tiên
lập nhà máy xay lúa ở Mỹ Tho năm 1915. Quan
điểm của Nguyễn Phú Khai được Bùi Quang
Chiêu nhiệt thành chia sẻ. Cả hai nhiều lần
cổ vơ lập trường bằng những bài báo trên
“Diễn đàn bản xứ”: Hô hào mở mang kinh tế,
nâng cao dân trí và về chính trị, đ̣i được
quyền tự trị mà thôi. Các thành viên của
đảng Lập hiến, sau này như các ông Hội
đồng quản hạt Lê Quang Liêm, Diệp Văn
Cương, Trần Văn Khá, Trương Văn
Bền... đều tán thành quan điểm của Chiêu và
Khá. Ông Diệp Văn Kỳ, một Hội đồng quản
hạt, thành viên của đảng Lập hiến,
từng tuyên bố trước phiên họp Hội
đồng quản hại ngày 10-9-1917, yêu cầu
người Pháp cải thiện nhiều lănh vực cai
trị của chế độ thuộc địa:
- Cải cách hệ thống hành chánh làng xă, giảm
bớt nhiệm vụ, tăng lương cho hương
chức hội tề.
- Cần giao cho cai tổng giữ chức thẩm phán
hoà giải.
- Dễ dàng cho người Việt nhập Pháp
tịch.
- Mở rộng thêm Hội đồng quản hạt,
để nhiều người Việt làm thành viên
để tiếng nói của người địa
phương thêm quan trọng.
Tuy không phải là tuyên ngôn của đảng Lập
hiến, nhưng nhiều người nghĩ rằng các
đề
nghị ấy đều phản ảnh lập
trường của đảng này.
Ông Cương chủ trương đồng hoá
với nền văn hoá Pháp hơn là hợp tác. Năm 1919,
Bùi Quang Chiêu trở lại quan điểm cũ của
Nguyễn Phú Khai cho rằng: Hoa kiều là đồng minh
của Pháp trong việc bốc lột kinh tế của
người Việt nam. Do đó ngày 28-8- 1919, tờ
“Diễn đàn bản xứ” của Nguyễn Phú Khai
đăng một bài “cuộc tẩy chay hàng hoá Hoa
kiều”. Hai ngày sau, nhóm này lập ra “Hiệp hội
thương mại của người An Nam” với Khai
làm chủ tịch, Nguyễn Chánh Sát, chủ bút tờ “Nông
Cổ Mím Đàm” (1901-24), và Trần Quang Nghiêm, đồng
phó chủ tịch. Thành tích của những người
đề xuất phong trào “Tẩy chay Chinois” là:
- Lập ngân hàng Việt nam (1 0- 1919)
- Mở Đại hội Kinh tế Nam Kỳ, tập
họp đại biểu 16 trong số 20 tỉnh của
miền Nam.
Sau đó có phong trào nhiều người Việt
nhảy ra tranh thương bằng cách mở những nhà
máy. Đây cũng là một phong trào khá bồng bột, sôi
nổi như hồi “Cuộc Minh tân” mà Trần Chánh
Chiếu phát động hồi năm 1908. Nhiều nhà máy
xay lúa mọc lên khắp nơi: Nhà máy xay lúa của Lê
Văn Tiết ở Chợ Lớn, mỗi ngày xay
được 16 tấn gạo; nhà máy xay của Nguyễn
Thành Liêm ở Mỹ Tho, ông Lê Phát Vĩnh, con trai ông
Huyện sĩ lập nhà dệt sa-ten, the lụa ở Sài
g̣n, sử dụng 50 công nhân... Thời điểm này
cũng là lúc các nhà giàu có kiến thức Tây học xuất
vốn lập đồn điền cao su, trà, cà phê.
Ông Chiêu công khai ủng hộ lập trường “Pháp
Việt đề huề” của A. Sarraut:
“Ao ước hai nước Pháp Nam sẽ hợp tác
đề huề và ra vẻ hoài nghi vấn đề
“độc lập, giải phóng” c̣n mơ hồ trong
tương lai, một vấn đề mà bọn trẻ
cách mạng vừa được 20 tuổi đời,
đang háo hức đ̣i hỏi”.
Nói về sự xuất hiện bí mật của
những phần tử cộng sản tại Đông
Dương, ông Chiêu nói: “Cộng sản là những hiệp
sĩ mang dấu hiệu búa liềm, đang mở cuộc
tảo thanh chống guồng máy cai trị của chúng ta”.
(La Tribune Indochinoise ngày 9-5-1924)
Khi tờ “La Tribune Chinoise” ra đời, đảng
Lập hiến đă:
- Tạo riêng thế đối thế ôn hoà, có uy tín
trong giới tư sản, trí thức Nam Kỳ. Ban Giám
đốc tờ báo cứ ung dung theo đường
lối hợp tác giữa kẻ thống trị và bị
trị.
- Tiếng nói của những nhà giàu, hấp thụ
văn hoá Tây phương.
- Những cây viết: Trần Văn Khá, Bùi Quang Chiêu, Lê
Quang Liêm, Nguyễn Phan Long... đều nhứt loạt
cổ động cho đường lối này.
Chúng ta thường nghe ông bà nhắc lại hồi
thập niên 1920, 30 ở Nam Kỳ gần như tỉnh nào
cũng lập hội “Canh nông tương tế-tín
dụng (Société Indigène de Crédit Agricole Mutuel), cứ
tưởng đây chỉ là một hội tương
tế, hiếu hỉ. Thực ra, đó là một tổ
chức tập họp các điền chủ ở Nam
Kỳ, để đối phó với Hoa kiều
độc quyền mua bán lúa gạo. Chính các hội “Canh
nông tương tế - tín dụng” ấy khuyến khích các
đại điền chủ ở mỗi tỉnh lập
nhà máy xay lúa, bán thẳng ra ngoài không qua trung gian của Hoa
kiều. Hội Canh nông tương tế - tín dụng thành
lập sớm nhất ở Nam Kỳ là Mỹ Tho (1912). Sau
đó, gần như tỉnh nào cũng có. Mục đích
chính của hội là lập ra mỗi tỉnh một cái
lẫm (kho lúa), để tới mùa, các chủ ruộng
đem lúa gởi vào đó. Hội xem xét, phân phối,
ấn định giá bán ra thị trường, không bị
bọn đầu cơ ép giá. Ngoài ra, họ c̣n lập “Canh
nông ngân hàng tín dụng” (Agricole Crédit) giúp họ vay khỏi
bị người Chà Chetty bóc lột. Khi ông Phạm Quỳnh
vào Nam, thăm ông Lê Quang Liêm, lúc đó đang làm chủ
quận Long Xuyên, hội trưởng “Hội khuyến
học” và chủ trương Đại Việt tạp
chí” cổ vơ đường lối Pháp Việt đề
huề như “Nam Phong” ngoài Bắc. Ông Phạm Quỳnh
đề nghị với ông “Phủ Bảy” tức Lê Quang
Liêm nên hợp tác hai tờ báo “Đại Việt và Nam
Phong” làm một tạp chí chung cho cả Nam lẫn Bắc.
Cả hai ông đều tán thành v́ chung một mục
đích, đường lối. Tuy nhiên việc hợp tác
ấy không thành.
Nhắc lại tờ báo “Diễn đàn Đông
Dương” của ông Bùi Quang Chiêu sống mạnh từ
năm 1926 đến 1941. Ngoài nghề làm báo, ông Chiêu c̣n là
một chánh khách giao thiệp rộng. Ông Chiêu cố tranh
đấu đ̣i cho Việt nam có một bản hiến
pháp v́ lẽ “từ trước tới nay, chính sách cai
trị thuộc địa của Pháp không dựa vào
một khuôn khổ nhứt định nào”. Theo ông Chiêu “có
hiến pháp để dân chúng biết sống và hành
động đúng theo hiến pháp”. V́ thế đảng
của ông lấy tên là “Đảng Lập hiến”.
Vào năm 1918, ông Chiêu có đưa ra một nhận xét:
“Muốn mở mang kinh tế nước nhà, nâng cao dân trí,
để đi đến mục tiêu cuối cùng là
độc lập, chúng ta phải dựa vào Pháp hoặc
Nhựt”.
Đối với cộng sản những người
quốc gia thân Pháp hay Nhựt, đều có tội phải
chết, chỉ có quyền theo Liên Xô mới là... yêu
nước. Kể từ khi thành lập đảng
cộng sản Đông Dương (1930) đến nay,
cộng sản Việt nam tuyệt đối trung thành
mệnh lệnh của Liên Xô, dù phải bán rẻ quyền
lợi quốc gia dân tộc. Hơn một thế hệ
qua rồi, kể từ khi dốc toàn bộ sinh lực
miền Bắc, cùng với vơ khí viện trọ của Liên
Xô, chiếm cho bằng được miền Nam, Việt
cộng vẫn c̣n mắc nợ Liên Xô 10 tỷ đô la.
Với tổng sản lượng quốc gia là 17 tỷ
(thống kê của LHQ năm 1989) liệu Việt cộng
huy động tất cả tài nguyên đất nước,
tiềm lực, tài lực của toàn dân, có thể trả
hết món nợ vơ khí ấy trong suất thế kỷ 21
được chăng? Đó là công hay tội của
cộng sản? Cùng một hành động mà người
quốc gia làm th́ bị kết tội, c̣n cộng sản
làm th́ có công!
Khi Toàn quyền Varenne vô Sài g̣n, ông Chiêu đưa yêu sách,
nhưng Varenne từ chối “v́ ngoài thẩm quyền”. Ông
cho biết chỉ có Quốc hội Pháp mới có quyền.
Do đó, ông Chiêu nhứt định qua Pháp vận
động (1926). Tuy vậy, mối hy vọng đó không
thành tựu. Ông Bùi Quang Chiêu trở về Sài g̣n tay không. Khi
ông về tới Sài g̣n, lớp trí thức tư sản
tổ chức biểu t́nh đón ông tại bến tàu.
Đồng thời, những tay thực dân, chủ
đồn điền, vốn coi Nam Kỳ là vương
quốc của họ, cũng huy động một nhóm
người quá khích, tổ chức cuộc phản
biểu t́nh để phá rối. Hai bên xô xát hỗn
loạn. Tờ “Đông Pháp thời báo” thuật lại
biến cố đó như sau: “một cảnh trí ngoài
sự tưởng tượng của người ta: Dân chúng
nườm nượp kéo đến bên tàu Nhà Rồng
như nước lũ. Đường nào
đường nấy chật nức người ta,
từ trước Sở Thương Chánh cho tới Quai de
Belgique, qua cầu, thẳng tuột tới bến tàu. Tàu
tới trễ, dân chúng lũ lượt tới chúng
đông. Ngẫu nhiên v́ vụ Nguyễn An Ninh bị bắt
mà Chiêu được nhân dân tiếp đón long trọng.
Cả ngàn thanh niên hộ tống đi hai hàng, tay đeo
băng vàng, huy hiệu đảng Jeune An nam, vừa đi
chậm theo Bùi Quang Chiêu vừa hô khẩu hiệu: “Phải
thả Nguyễn An Ninh”. Phía phản biểu t́nh của Pháp
cho người nhào vô phá hoại. Một tên Tây con, côn
đồ lẻn vào gần và đá đít Bùi Quang Chiêu
một cái. Thế là dân chúng như nước vỡ
bờ, túa chạy theo đánh đấm mấy chú Tây.
Nếu không có cảnh sát can thiệp kịp, thế nào
cũng có án mạng, người chết”. (“Nguyễn An
Ninh” của Phương Lan, trang 157).
Khi ở Pháp, ông Bùi Quang Chiêu có viết một loạt
bài báo đăng trên tờ “Việt nam hồn” của ông
Nguyễn Thế Truyền. Nói về lai lịch tờ
“Việt nam hồn”, cụ Đặng Hữu Thụ, tác
giả sách “Nhà cách mạng Nguyễn Thế Truyền”
sưu tầm tài liệu tại các văn khố Pháp, cho
biết:
“Việc ra báo “Việt nam hồn” bằng tiếng
Việt là ư kiến của ông Nguyễn Ái Quốc. Vào
khoảng cuối năm 1922 đầu năm 1923, Quốc
phổ biến trong giới Việt kiều ở Pháp
một tờ truyền đơn, kêu gọi họ mua báo
này, do chính ông ta làm chủ bút. Lời kêu gọi ấy
việt theo thể thức một bài vè: “Hồn Nam
Việt”:
Ở trong thế giới, ống nói, tàu bay,
Việc lạ tin hay, ngày ngày
thường có.
Nào ai muốn rơ phải có
nhật tŕnh,
Ḿnh ở gia đ́nh, mắt
soi vạn lư,
Á, Âu, Úc Mỹ... rút lại
một tờ.
Mong mỏi người ḿnh,
mở mày mở mặt,
Báo này sẽ đặt tên
“Việt nam hồn”.
Mỗi tháng hai lần, mỗi
lần trăm bản
Xin anh em bạn, ai có muốn
coi,
Cắt gửi cho tôi, cái toa măi
chi (order).
Mấy lời chứng
thị, thư bâí tận ngôn,
Chúc “Việt nam hồn”
vạn tuế, vạn tuế?
Phía dưới có câu: “Cắt cái toa này, gởi cho M.
Nguyễn Ái Quốc, 3 rue du March des Patriarches, Paris 5”. Đoạn dư,
để một khoảng trống cho người mua
điền tên, họ, địa chỉ. Ông có ghi thêm:
“Nếu không đủ 100 người xem th́ không thể làm
được”.
Đó là cách thức của ông Hồ mượn
đầu heo nấu cháo, định ra báo “Việt nam
hồn”, nhưng thất bại v́ không đủ số
người đặt mua.
Đến cuối năm 1925, ông Nguyễn Ái Quốc
đi Liên Xô được hai năm rưỡi, ông
Nguyễn Thế Truyền mới thực hiện ra tờ
báo “Việt nam hồn” riêng do chính ông làm chủ nhiệm.
Trên danh nghĩa, tờ Việt nam hồn do ông Nguyễn Ái
Quốc sáng lập, nhưng không có một bài viết nào v́
khi báo ra đời, ông đă đi Liên Xô, mà “quên” trả
lại số tiền của mấy mươi độc
giả đặt mua báo, v́ không ra được!
Sự thật đă rơ ràng như vậy, mà tài liệu
cộng sản bên nhà, luôn luôn đề cao “uy tín dỏm”
của “Bác”: Trong thời gian ở Pháp, Bác có ra tờ báo
“Việt nam hồn” để cổ động trong
giới người Việt sinh sống tại Pháp...”.
“Bác” không có ra tờ báo “Việt nam hồn” nào, mà chỉ có
báo “Việt nam... lèo”. (Tài liệu của Đặng
Hữu Thụ đă nêu ở trên, trang 73).
Tờ báo “Việt nam hồn” của ông Nguyễn
Thế Truyền là nguyệt san, viết bằng 3 thứ
tiếng Việt, Pháp, Hán. Có vài số như số 10 14
đều viết bằng quốc ngữ. Trước khi
tờ báo đầu tiên chào đời, ống Nguyễn
Thế Truyền có tung ra tờ truyền đơn cổ
động:
Nghĩ lắm lúc thâm gan, tím ruột,
Vạch trời kia mà tuột
gươm ra,
Cũng xương, cũng
thịt cũng da,
Cũng ḥn máu đỏ, con nhà
Lạc Long.
Thế mà chịu trong ṿng trói
buộc,
Mấy mươi năm
nhơ nhuốc lầm than
,Thương ơi Đại
Việt giang san,
Thông minh đă sẵn, khôn ngoan
cũng thừa...
(Sách đă dẫn, trang 76)
Trong những bài báo của ông, nhiều lần ông
đ̣i hỏi người Pháp ban bố tự do dân chủ
cho Việt nam, nâng cao dân trí, mỏ mang kinh tế để
tiến (rân đến chỗ tự trị, như
thế, sẽ tránh được hỗn loạn. Theo ông,
nếu Việt nam độc lập mà hỗn loạn, dân
trí c̣n ở tŕnh độ thấp kém sẽ làm mồi cho
cộng sản.
Trong một bài viết bằng tiếng Pháp đăng
trên báo “Việt nam hồn” của ông Nguyễn Thế
Truyền, tựa “Pour le dominion Indochinois” đăng liên
tiếp trên 4 số báo, ông Chiêu tố cáo chánh sách dùng
rượu đầu độc dân tộc Việt nam:
“ Nếu ở Việt nam số trường học
cũng nhiều nh ư số tiểu bài rượu và
thuốc phiện, th́ dân Việt nam sẽ là dân có học
thức vào bậc nhíp thê”giới. Trẻ con đi học
buộc phải nạp giấy khai sanh cho nhà trường,
nhưng nếu trẻ con đi mua một lượng
thuốc phiện, th́ không phải nạp giấy tờ ǵ.
Quyền tự do độc nhất mà người Việt
nam chúng tôi được hưởng là quyền tự
đầu độc bằng rượu và thuốc
phiện”.
Khắp lănh thổ chằng chịt những liệu
bài rượu, mà oái oăm thay, các tiểu bài này
đập vào mắt quần chúng bằng những ngọn
cờ ba sọc, cắm một cách kiêu hănh trên mái nhà. Trên
hay dưới lá cờ, có mấy chữ R.A. Đó là
chữ tắt ty rượu “Regie alcool”. Trong thời gian
ở Pháp ông Nguyễn Thế Truyền nhiều lần
đi diễn thuyết về nạn độc quyền
nấu và bán rượu của Pháp. Cụ Đặng
Hữu Thụ viết về việc này như sau:
Ở Nam Kỳ, rượu được một công
ty Pháp độc quyền nấu và do chính phủ bán. V́
độc quyền nấu rượu dành cho các công ty Pháp,
nên các người Việt nam phải làm nghề nấu
rượu theo phương thức cổ truyền bị
phá sản, mất kế sinh nhai. Khi mới thành lập,
công ty rượu “Sociéte Francaise des Distillenes de L”lndochine” có
số vốn 2 triệu Francs. V́ lợi tức nhiều,
các cổ phần tăng gia mau chóng, số vốn tăng
lên vào năm 1926 là 33 triệu Francs. Lợi tức năm
1926 của công ty là 21 triệu Francs. Mỗi cổ phần
năm 1901 là 500 Francs, đến năm 1926 bán tới 6.600
Francs. Chủ tịch công ty rượu là ông A.R. Fontaine. Các
ty rượu mở khắp nơi. Làng nào cũng có. Các
quan lại Việt nam được chỉ thị
của cấp trên phải làm cho rượu bán chạy,
tiêu thụ được nhiều. Quan Phủ, Huyện
nào mà trong hạt của ḿnh, rượu bán được
nhiều rượu th́ chóng được thăng
thưởng. V́ vậy, có nhiều vị quan buộc
mỗi xă phải tiêu thụ một số lượng
rượu nhất định. Việc bắt
rượu lậu gây ra nhiều tệ đoan. Nhà đoan
đi xét rượu lậu, thấy ở bờ rào hay
ở ruộng của người nào, có giấu men
rượu và dụng cụ nấu rượu, cùng rượu
lậu, là người ấy bị đưa ra toà
phạt vạ, phạt tù rất nặng nề, không
kể tiền bồi thường thiệt hại cho nhà
đoan”. (Sđd, trang 233)
Đặc biệt vào năm 1928, khi có vụ án
Đồng Nọc Nạn, tờ báo,”La Tribune Indochinoise” có
đăng tải vụ này, tường thuật vắn
tắt diễn tiến vụ án, kết án gia đ́nh Mă Ngân
đă cấu kết với ông Phủ Huấn giựt
đất của gia đ́nh Mười Chức. Vụ án
đẫm máu đă làm thiệt mạng c̣ hiến binh Pháp
và 3 người trong gia đ́nh Mười Chức. (Xem thêm
“Vụ án Đồng Nọc Nạn, sách Nam Kỳ lục
tỉnh” cùng tác giả)
Năm 1929, ông Bùi Quang Chiêu cùng luật sư Dương
Văn Giáo đi Calcuua dự phiên họp của
đảng Quốc Đại Ấn Độ. Nhân cơ
hội này, hai ông ghé thăm viện Đại học Tagore
Santiniketan, mặc dầu không gặp được thi hào
Tagore. Năm sau, thi hào Tagore trên đường đi
Nhựt Bổn, có ghé qua Sài g̣n, gặp và nói chuyện
với ông Chiêu. Nhân dịp này, ông Chiêu có viết nhiều
bài báo ca ngợi cả Gandhi lẫn đường lối
cai trị của Anh ở Ấn Độ. Trong thời
gian từ năm 1932 tới 1941, ông Chiêu hoạt
động ở Pháp với tư cách Nghị sĩ
Đông Dương trong Thượng hội đồng
quốc gia Pháp.
Khi ở vào tuổi 70, có lần ông Chiêu tâm sự
với một người bạn thân là “quá tin vào thiện
chí của Pháp, nên mới mất nhiều thời gian theo
đuổi mục đích”. Năm 1945, theo lịnh của
Trần Văn Giàu và Nguyễn Văn Trấn, bọn
“Quốc gia tự vệ” tới tư gia ông Chiêu ở Phú
Nhuận hạ sát gần trọn gia đ́nh một cách man
rợ.
Bùi Quang Chiêu:
người làm thương mại, văn hoá
Cho tới nay, ít người được biết
đến con người văn hoá của ông Bùi Quang Chiêu.
Chọn Học viện Canh Nông để theo học,
điều đó biểu lộ chí hướng của Bùi
Quang Chiêu, muốn mở mang kinh tế nước nhà.
Với bằng kỹ sư Canh nông, khi hồi hương,
ông Chiêu được bổ nhiệm làm Phó giám đốc
Nha Canh nông ở Hà Nội. Năm sau (1907), ông
được dồi về Nam làm Thanh tra nông nghiệp.
Với chức vụ này, Chiêu được Toàn quyền
Pháp giao quyền quản lư cơ sở tằm tơ,
dệt lụa ở Tân Châu.
Năm 1913, ông Chiêu trở ra Bắc nghiên cứu vấn
đề tơ lụa cho chính phủ. Về Nam lần
thứ hai, ông Chiêu được chính thức bổ làm
Giám đốc cơ sở sản xuất tằm tơ
tằm Tân Châu, lợi tức mỗi năm ước
chừng 4.000 đồng.
Bùi Quang Chiêu là một trong số các ông Hội
đồng quản hạt Nam Kỳ có sáng kiến thành
lập trường “Nữ học đường”, sau này
là trường Gia Long.
Năm 1923, ông Chiêu lập ra “An Nam học
đường” tại Phú Nhuận, Gia Định. Tuy
gặp nhiều khó khăn do chính sách hạn chế giáo
dục của người Pháp, nhưng An Nam học
đường cũng tồn tại đến năm
1928. Trường này góp phần đào tạo một
thế hệ thanh niên mới, hiếu học. Hà Huy Tập
từ Bắc vào Nam t́m sinh kế, có đến xin dạy
tại trường này. Tạ Thu Thâu trước khi qua
Pháp du học, cũng là giáo sư của An Nam học
đường nhiều năm. Bất cứ người
nào làm ăn thành công về vấn đề ǵ, cũng có
người ganh tỵ. Bùi Quang Chiêu không tránh
được thông lệ đó. Trên tạp chí “Văn minh”
số ra ngày 2-3-1927, tố cáo ông Bùi Quang Chiêu khi đứng
ra khai thác và quản lư sỏ tằm tơ Tân Châu, đă
nhận được một số trợ cấp
rất lớn là 20.000 đồng. Ngoài ra, ông c̣n thâu huê
lợi quảng cáo trên báo “Diễn đàn Đông
Dương” hàng năm tới 4.000 đồng.
Kể từ khi có phong trào “Tẩy chay Chinois” vào năm
1918, Bùi Quang Chiêu cũng dấn thân vào công việc kinh doanh,
thương mại. Điều đó cũng chứng
tỏ ông là người có đầu óc thực tiễn,
dứt bỏ quan niệm bảo thủ, khinh khi nghề
buôn bán. Sau khi có các bài tố cáo Hoa kiều là đồng
minh của Pháp, bóc lột đồng bào, Bùi Quang Chiêu
cũng tham dự vào cuộc tranh thương với
họ: mở xưởng làm nón ở Sài g̣n, lập nhà máy
xay lúa ở Chợ Lớn, mở hiệu buôn “Nam
Đồng Lợi”.
Có óc tháo vát biết tổ chức lại giao thiệp
rộng, được Toàn quyền Đông Dương Van
Vollenhoven nâng đỡ, v́ là bạn học, nên các cơ
sở kinh tế, thương mại của Bùi Quang Chiêu
mỗi ngày một phát triển mạnh.
Ông Chiêu có người em ruột là Dược sĩ Bùi
Quang Tùng. Hồi năm 1945, khi cuộc kháng chiến
chống Pháp mới bùng nổ, chính dược sĩ Tùng
lái chiếc xe Traction mở máy điện quang, máy
truyền máu trực tiếp ra bưng, để tiếp
tế cho Sở Y tế Nam Bộ. Nhờ đó, Sở Y
tế đă cứu sống nhiều chiến sĩ bị
thương ngoài mặt trận trở về.
Người cộng sản nh́n ở đâu cũng
thấy kẻ thù. Những ai yêu nước, không theo
kiểu cách của họ đều là phản quốc.
Chủ trương chụp mũ, lư luận một chiêu,
độc tôn đảng cộng sản, đă làm cho
biết bao nhiêu người yêu nước, các nhân lài
chết oan.
Thời đại của ông Chiêu, của ông Phạm
Quỳnh, chọn đường lối hoạt
động chính trị riêng cho ḿnh. Là người của
buổi giao thời, cho nên xét theo quan niệm quá khích
của cộng sản, th́ không ai cảm thông
được. Thời thế lúc đó cũng như sau
đó, chính cựu Hoàng Bảo Đại cũng tâm sự
“nếu không biết khéo léo giao thiệp giữa một
trạng thái chính trị do sự chiếm đoạt gây
nên, và một trật tự mới, trong đó, kiến
tạo một xă hội phồn vinh, trọng nhân phẩm,
không thể trong chốc lát mà tạo ra được”. Ai
cố gắng giữ hài hoà, sự ôn hoà trong cách thức
tranh đấu để đi đến một sự
triển khai khôn ngoan và cuối cùng đi tới chỗ hoàn
toàn độc lập. Lấy quan điểm bây giờ xét
hoàn cảnh xưa có lúc không thực tế. Người
quốc gia không kết tội v́ không quá tin, không cuồng
tín.